BẢN TIN THƯ VIỆN

Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

HỌC LIỆU ĐIỆN TỬ

SÁCH NÓI - TALKING BOOKS

Thành viên trực tuyến

1 khách và 0 thành viên

Ảnh ngẫu nhiên

Z7128477621111_2073b71a1946d52b9d7c8664cbc4c462.jpg Z7128477616665_a670f064b29f219f69d1629f1953af56.jpg Z7128477607856_595944a1cd90201a1bef639b2e8db220.jpg Z7128477587658_210355140a764ba848989f7e9a31fea1.jpg Z7128477586655_a2fcf9401b38d8e6ffce7ced5872abac.jpg Z7128477583819_8bce51629aba049d3575cd0453986ef3.jpg Z6167723425618_a3e172400ddbaea0b8604fb075928f38.jpg Z6167725144433_79fab12f6015e4f26c5384c5e51c079b.jpg Z6167723422858_5740aaf1f44ab709bd405827846f6794.jpg Z6167723418035_38a4e0e364c4977241b569a0beae0126__Copy.jpg Z6057103975362_6f8116ac48227df7ac7102a75648c366.jpg Chuc_mung_ngay_nha_giao_Viet_Nam_2011.flv Z5965030933623_f35adeb81ba927ddd413289cbd7ae67b.jpg Z5965030931893_71a615ef76131912697924dd39ee5668.jpg Z5965030905132_e2f2db9795c30b22c488eb925f4b3d7b.jpg Z5965060387858_7bc0a1f590939e7d86c281a9e92b6ee7.jpg Z5965030904956_98aefade3bf69fb27162c5f044f4c3e9.jpg Chau_Phi.jpg Chau_Au.jpg Tranh_pc_1.jpg

Chúc mừng Ngày Nhà giáo Việt Nam 20-11.

TLGDĐP 7

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Thư viện Trường THCS Thị Trấn Thanh Hà
Ngày gửi: 13h:59' 26-12-2024
Dung lượng: 3.9 MB
Số lượt tải: 1
Số lượt thích: 0 người
UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
LƯƠNG VĂN VIỆT (Tổng Chủ biên)
ĐỖ DUY HƯNG (Chủ biên)
NGUYỄN THANH THUỶ – ĐẶNG VĂN BÌNH – PHẠM VĂN KHANH

7
NHÀ XUÂT BẢN GIÁO DỤC VIỆT NAM

Mục lục

Lời nói đầu

3

Hướng dẫn sử dụng tài liệu

4

Chủ đề 1 Lịch sử Hải Dương từ thế kỉ X đến đầu thế kỉ XVI

5

Chủ đề 2 Hải Dương – Phên giậu phía Đông trong cuộc đấu tranh


2

bảo vệ độc lập, tự chủ của dân tộc

19

Chủ đề 3 Nghệ thuật truyền thống của Hải Dương

28

Chủ đề 4 Tục ngữ, ca dao của Hải Dương

40

Chủ đề 5 Thiên nhiên đối với sự phát triển kinh tế – xã hội

50

Chủ đề 6

71

Thiên tai và phòng chống thiên tai

Lời nói đầu

Các em học sinh thân mến!
Tài liệu Giáo dục địa phương tỉnh Hải Dương – Lớp 7 sẽ tiếp tục đồng
hành cùng các em học sinh trong việc tiếp cận và khám phá các vấn đề
về văn hoá, lịch sử truyền thống; địa lí, kinh tế, hướng nghiệp; chính trị – xã
hội, môi trường của xứ Đông xưa, Hải Dương nay.
Với 06 chủ đề được Ban Biên soạn lựa chọn kĩ lưỡng, bám sát mục
tiêu, yêu cầu của nội dung giáo dục địa phương, các em sẽ có cơ hội, trải
nghiệm, tìm hiểu lịch sử phát triển của Hải Dương từ thế kỉ X đến đầu thế kỉ
XVI; vai trò của Hải Dương trong cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập, tự chủ của
dân tộc; nghệ thuật truyền thống của Hải Dương; tục ngữ, ca dao của Hải
Dương; tài nguyên thiên nhiên của Hải Dương; thiên tai và phòng chống
thiên tai của tỉnh.
Thông qua các hoạt động khám phá tri thức, các em có điều kiện phát
huy, phát triển một số năng lực cốt lõi và phẩm chất chủ yếu cần có của
học sinh trung học cơ sở. Qua đó, bồi dưỡng niềm tự hào, tình yêu quê
hương, ý thức giữ gìn, bảo tồn, phát huy các giá trị truyền thống của quê
hương; vận dụng những điều đã học vào giải quyết những vấn đề nảy sinh
từ thực tế của quê hương, góp phần bảo vệ môi trường tự nhiên tại tỉnh Hải
Dương nói riêng, cả nước nói chung.
Trong quá trình biên soạn, tài liệu không tránh khỏi những thiếu sót.
Rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các các thầy cô giáo và các em
học sinh để Tài liệu giáo dục địa phương tỉnh Hải Dương – Lớp 7 ngày càng
hoàn thiện hơn.
Ban Biên soạn

3

Hướng dẫn sử dụng tài liệu
Các em học sinh thân mến!
Tài liệu Giáo dục địa phương tỉnh Hải Dương – Lớp 7 được biên soạn gồm 06
chủ đề thuộc các lĩnh vực địa lí, lịch sử và ngữ văn; mỗi lĩnh vực có đặc điểm riêng.
Các em cần bám sát đặc trưng của từng môn học để tìm hiểu, khám phá và chiếm
lĩnh tri thức.
Mỗi phần, mỗi bài học cụ thể của chủ đề thường bắt đầu bằng các
nhiệm vụ, tình huống cần giải quyết để các em kết nối với tri thức đã
biết và tiếp tục tìm kiếm, thu thập thông tin cần thiết trước, trong và
sau khi tìm hiểu mỗi bài học và cả chủ đề.
Phần hình thành kiến thức, đọc hiểu văn bản: được thể hiện sinh
động qua kênh chữ, kênh hình và một số hình ảnh minh hoạ. Những
câu hỏi, hoạt động, hướng dẫn giúp các em tự tin khám phá kiến thức
về địa lí, lịch sử và văn hoá của Hải Dương.
Phần thực hành, luyện tập: là những câu hỏi, bài tập nhằm củng
cố, khắc sâu kiến thức, rèn kĩ năng nhận diện, nhận xét, đánh giá, bước
đầu giải quyết một số vấn đề có liên quan.
Phần vận dụng, mở rộng: là những gợi ý, yêu cầu, định hướng để
các em kết nối tri thức của địa phương Hải Dương với tri thức chung
của dân tộc và thế giới; kết nối kiến thức nội môn, liên môn một cách
chủ động, sáng tạo nhằm hình thành các phẩm chất chủ yếu, phát triển
các năng lực cốt lõi, sở trường, năng khiếu của mỗi cá nhân một cách
hiệu quả nhất.
Phần em có biết là những thông tin bổ trợ để giải thích, mở rộng,
làm cho rõ nội dung tuyến chính.
Chúc các em tự giác, tự chủ, tự tin và sáng tạo trong học tập để đạt kết quả
tốt nhất.
Ban Biên soạn
Hãy bảo quản, giữ gìn tài liệu để có thể dành tặng cho các em học sinh lớp sau nhé!

4

Chủ đề 1
LỊCH SỬ HẢI DƯƠNG
TỪ THẾ KỈ X ĐẾN ĐẦU THẾ KỈ XVI
Mục tiêu
• Trình bày được những chuyển biến trong xã hội; sự phát triển của kinh tế,
văn hoá Hải Dương từ thế kỉ X đến thế kỉ XVI.
• Nhận xét được sự phát triển của kinh tế, văn hoá của Hải Dương trong
lịch sử.
• Tìm hiểu, giới thiệu được một số di tích lịch sử – văn hoá; thành tựu
văn hoá; nghề thủ công tiêu biểu của Hải Dương.

Bình gốm Chu Đậu thế kỉ XV được lưu tại Bảo tàng Topkapi Saray, Istanbul (Thổ Nhĩ Kỳ)

5

TÌNH HÌNH XÃ HỘI

Thế kỉ X được coi là mốc mở đầu thời đại phong kiến độc lập của
dân tộc Việt Nam. Xã hội phong kiến được thiết lập và từng bước
phát triển, đạt đến đỉnh cao trong các thế kỉ XV – XVI.
Vậy tình hình xã hội của Hải Dương đã phát triển như thế nào trong
các thế kỉ X – XVI?

1 Tên gọi Hải Dương

Tên gọi Hải Dương được ra đời gắn với triều đại nào trong các thế kỉ X – XVI?
Từ thế kỉ X đến thế kỉ XVI, vùng đất Hải Dương mang nhiều tên gọi khác nhau qua
các triều đại.
Thời gian

Đơn vị hành chính

Tên gọi

Thời Lý

Lộ

Hồng Lộ

Thời Trần

Lộ

Hải Đông

Thời Lê sơ (1428 – 1469)

Thừa tuyên

Nam Sách

Thời Lê sơ (từ 1469)

Thừa tuyên

Hải Dương

Hải Dương khi đó giáp biển nên tên gọi Hải Dương có hàm ý là “ánh dương miền duyên
hải” . Bên cạnh tên gọi hành chính, từ thời nhà Lý, với vị trí là một trong tứ trấn quan trọng
của kinh thành Thăng Long nên vùng đất Hải Dương còn mang tên gọi xứ Đông.
1

1

6

Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí, tập 2, tr.100.

2 Tình hình xã hội Hải Dương

Trong các thế kỉ X – XVI, xã hội Hải Dương đã có những chuyển biến gì?

Thế kỉ X, dưới thời Đinh, Tiền Lê, ruộng đất chủ yếu là ruộng đất công của các
làng, xã, chia cho nông dân cày cấy. Tuy nhiên, cuối thế kỉ X bắt đầu xuất hiện một
số hào trưởng địa phương là quý tộc, sở hữu nhiều ruộng đất.
Thời Lý – Trần, chế độ phân phong ruộng đất cho các vương hầu, quý tộc và
những người có công với triều đình đã đưa đến sự xuất hiện nhiều thái ấp. Tại vùng
đất Hải Dương (Hải Đông lộ) đã có tám thái ấp rộng lớn. Giai cấp địa chủ từng bước
được hình thành.
Thời Trần, những người
thuộc hàng tôn thất và những
người tài giỏi, lập công lớn
trong các cuộc kháng chiến
chống xâm lược Nguyên Mông
được ban quốc tính (họ nhà
vua) được triều đình ban thái
ấp, ruộng đất này không phải
nộp tô thuế cho nhà nước.
Trên tấm bia “Tam Bảo
địa” tại núi Phượng Hoàng (xã
Yên Đức, Đông Triều nay thuộc
Quảng Ninh), ghi rõ “Chủ đất
làm chức Hành khiển được
vua Trần ban quốc tính là Trần
Khắc Chung và vợ là Bảo Hoàn
công chúa…”
Hình 1. Bia khắc xác nhận thái ấp của
Trần Khắc Chung trên núi Phượng Hoàng
(xã Yên Đức, huyện Đông Triều nay thuộc Quảng Ninh)

7

Dưới thời nhà Trần, Hải Dương có các thái ấp của An Sinh Vương Trần Liễu ở
vùng Kinh Môn; thái ấp của Trần Khắc Chung ở Đông Triều; thái ấp của Trần Quốc
Tuấn; thái ấp của Huệ Vũ đại vương Trần Quốc Chẩn và thái ấp của Thượng tướng Trần
Phó Duyệt (cha của Trần Khánh Dư) ở Chí Linh1,… là những vùng đất rộng lớn.

Từ thời Hồ đến thời Lê sơ, tình trạng mua bán ruộng đất được nhà nước cho phép
nên ruộng đất tư nhân tăng nhanh, các thái ấp xuất hiện ngày càng nhiều, giai cấp
địa chủ ở Hải Dương không ngừng lớn mạnh. Chế độ phong kiến ngày càng phát triển
trong xã hội Hải Dương.

Trong các thế kỉ X – XVI, xã hội Hải Dương có những chuyển biến gì? Tại sao ở Hải
Dương thời kì này có nhiều thái ấp của các quan lại, quý tộc?

Giới thiệu về ý nghĩa của tên gọi Hải Dương quê hương em.

1

8

Nguyễn Trãi, Dư địa chí, H. KHXH, Hà Nội, 1976, tr.218.

TÌNH HÌNH KINH TẾ

Qua năm đợt khảo cổ học từ năm 1983 đến năm 2014 và cuộc
trục vớt con tàu đắm tại Cù Lao Chàm năm 1997 đã có nhiều kết
luận quan trọng về sản phẩm gốm sứ Chu Đậu cũng như về trung
tâm sản xuất gốm sứ bậc nhất của Hải Dương và cả nước trong
các thế kỉ XV – XVI.
Vậy, tình hình kinh tế của Hải Dương đã phát triển như thế nào
trong các thế kỉ X – XVI?

1 Nông nghiệp

Kinh tế nông nghiệp tại Hải Dương phát triển như thế nào trong các thế kỉ
X – XVI?

Hải Dương là vùng đồng bằng màu mỡ, có “ruộng vào hạng thượng thượng”1 nên
từ thế kỉ X, Hải Dương đã được biết đến là một trong những địa phương có thế mạnh
trong sản xuất nông nghiệp.
Dưới thời Lý – Trần, do chính sách khuyến nông tích cực của triều đình nên
diện tích đất canh tác được mở rộng, kinh tế nông nghiệp vùng Hồng Châu bắt
đầu phát triển.

1

Nguyễn Trãi, Dư địa chí, H. KHXH, Hà Nội, 1976, tr.218.

9

Sản xuất nông nghiệp phát triển quy mô lớn trong các thái ấp, điển hình là thái ấp
của Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn ở Vạn Kiếp. Công lao của Công chúa Thiên
Thành là phu nhân của Trần Hưng Đạo trong việc phát triển sản xuất nông nghiệp, xây
dựng căn cứ hậu phương vững chắc phục vụ đại bản doanh Vạn Kiếp trong cuộc kháng
chiến chống quân Nguyên Mông xâm lược được lưu trong thần tích của làng Trung Quê
(xã Lê Lợi, thành phố Chí Linh). Ngày nay, dân gian còn truyền tụng câu ca:
“Trâu thì Mẫu thả Huyền Đinh
Lợn thì Mẫu thả cánh đồng Trung Quê”.

Thời Lê sơ, ruộng đất công làng xã ở Hải Dương được chia lại theo phép quân
điền, đê điều được củng cố, binh lính được về quê làm ruộng,… thúc đẩy kinh tế nông
nghiệp Hải Dương phát triển mạnh mẽ.
Đến thời Lê – Trịnh, ruộng đất công làng xã bị thu hẹp dần, chính quyền không
quan tâm đến thuỷ lợi và tổ chức khai hoang, kinh tế nông nghiệp bị suy giảm, nạn
mất mùa đói kém xảy ra liên miên. Đây là nguyên nhân làm bùng nổ các phong trào
đấu tranh của nông dân Hải Dương chống lại chính quyền phong kiến.

KẾT NỐI DI SẢN
Ngọc phả đền Đồng Bào thuộc xã Gia Xuyên, thành phố Hải Dương;
miếu Đông Cận xã Tân Tiến, đền Đươi xã Thống Nhất, huyện Gia Lộc thờ
Nguyên phi Ỷ Lan đều có ghi công tích của bà dạy dân làng mở đất, cấy
lúa, trồng dâu nuôi tằm.

2 Thủ công nghiệp

Kể tên những nghề thủ công phát triển tại Hải Dương trong các thế kỉ X – XVI?

10

Là vùng đất nhiều sản vật, cư dân đông đúc nên sản xuất thủ công nghiệp
của Hải Dương trong thời kì này phát triển mạnh mẽ với nhiều ngành nghề, tiêu
biểu là các ngành, nghề thủ công như: chạm khắc gỗ, đúc đồng, làm gốm sứ,…
Ở các làng xã xuất hiện ngày càng nhiều các làng nghề thủ công nhất là nghề
gốm sứ.
Hải Dương là một trong những địa phương sản xuất gốm sứ lớn nhất cả nước.
Từ thế kỉ X, nghề sản xuất gốm và đóng gạch ngói đã rất phát triển. Đến thời Trần,
nhiều làng nghề sản xuất gốm đã ra đời và phát triển mạnh mẽ như cơ sở sản
xuất gốm sứ Vạn Kiếp (thành phố Chí Linh); làng Gốm phường Cổ Thành (thành
phố Chí Linh); làng gốm Chu Đậu (nay thuộc xã Thái Tân, huyện Nam Sách). Thời
Lê sơ, nghề gốm phát triển mở rộng, xuất hiện thêm nhiều làng gốm như: làng
Cậy xã Long Xuyên (huyện Bình Giang), gốm Hợp Lễ xã Long Xuyên (huyện Bình
Giang). Thế kỉ XV – XVI, các sản phẩm gốm Chu Đậu, Hợp Lễ là những sản phẩm
tiêu biểu cho dòng gốm thời Lê ở Việt Nam và đã được giao thương với nhiều
nước trên thế giới.

Hình 1. Sản phẩm gốm Hợp Lễ, thế kỉ XV

Hình 2. Đĩa gốm Chu Đậu, thế kỉ XV – XVI

Các nghiên cứu cho thấy thế kỉ XIV – XV, nghề gốm Việt Nam đã có bước phát triển
mạnh không chỉ về số lượng mà cả về chất lượng. Nhiều trung tâm sản xuất gốm xuất
khẩu mới ra đời và phát triển nhanh cả về quy mô và tốc độ. Hải Dương có bảy làng chuyên
làm gốm tráng men là Chu Đậu, Mỹ Xá (huyện Nam Sách), Ngói, Cậy, Láo, Bá Thuỷ, Hợp Lễ
(huyện Bình Giang).

11

Hình 3. Bình gốm hoa lam Chu Đậu lưu tại
Bảo tàng Topkapi Saray Istanbul (Thổ Nhĩ
Kỳ) do nghệ nhân Bùi Thị Hý tạo năm 1450

Hình 4. Ấm gốm hoa lam hình chim phượng
Chu Đậu, thế kỉ XV (hiện vật trong con tàu đắm
ở Cù Lao Chàm)

Ngoài ra, nhiều ngành nghề thủ công khác được phát triển tại Hải Dương, gắn với
các địa phương như: trồng dâu nuôi tằm dệt vải tại Mao Điền, chạm khắc gỗ Đông
Giao, huyện Cẩm Giàng; nghề nhuộm Đan Loan, kim hoàn Châu Khê, huyện Bình
Giang; chạm khắc đá Kính Chủ, Phạm Thái, thị xã Kinh Môn; nghề đóng giày Tam
Lâm, huyện Gia Lộc,…
3 Thương nghiệp

Kinh tế thương nghiệp của Hải Dương phát triển như thế nào trong các
thế kỉ X – XVI?

Do có lợi thế về kinh tế nông nghiệp, thủ công nghiệp và giao thông thuỷ nên
trong các thế kỉ X – XVI, thương nghiệp Hải Dương rất phát triển.

12

Dưới thời Lý – Trần, thương cảng Vân Đồn là thương cảng quốc tế đầu tiên
của nước ta. Hải Dương nằm trên trục giao thông thuỷ quan trọng, nối kinh đô
Thăng Long với thương cảng Vân Đồn, có mạng lưới đường sông nối liền với các
tỉnh lân cận nên hoạt động buôn bán, giao thương phát triển mạnh mẽ. Thế kỉ
XV – XVI, Hải Dương đã trở thành một trung tâm thương nghiệp lớn ở khu vực
đồng bằng Bắc Bộ.
Từ thời Lê sơ, hệ thống chợ
ở Hải Dương đã phát triển mạnh,
thường ở mỗi xã hoặc vài xã
lân cận có một chợ chung, họp
vào những ngày nhất định trong
tháng. Nhiều cảng sông có hoạt
động giao thương tấp nập, thuyền
bè đi lại như mắc cửi như bến
Vạn Kiếp (Vạn Kiếp, Chí Linh); bến
Nhạn Loan (Cổ Thành, Chí Linh);
bến Cổ Phường thuộc làng gốm
Chu Đậu (Thái Tân, Nam Sách);
bến Tiên Kiều (xã Đức Chính,
Cẩm Giàng), bến Ninh Giang (thị

Hình 5. Tranh vẽ cảnh chợ làng thời Hậu Lê

trấn Ninh Giang),…

Hàng hoá được giao thương tại Hải Dương thời kì này chủ yếu là các sản phẩm
thủ công, đặc biệt là đồ gốm. Tại các phiên chợ, nhân dân buôn bán các sản phẩm
nông nghiệp như thóc, gạo, rau, hoa quả; các sản phẩm ngư nghiệp như tôm, cua, cá,
ốc; các sản phẩm thủ công mây, tre đan như rổ, rá, thúng, dần, sàng, nong, nia; các
loại gia súc, gia cầm như lợn, gà, chó, mèo; các loại vải vóc, đồ gốm sứ,…
Thời Lê sơ, gốm sứ Hải Dương có mặt ở hầu hết các tỉnh Bắc Bộ, Trung Bộ và
được giao thương với các nước trên thế giới nhiều nhất. Các sản phẩm gốm sứ của
Hải Dương không chỉ là mặt hàng phục vụ nội thương mà còn đáp ứng được yêu
cầu của ngoại thương. Sản phẩm gốm Chu Đậu được nhiều quốc gia ưa chuộng và
đã được giao thương với nhiều nước trên thế giới như: Trung Quốc, Nhật Bản và các
nước phương Tây.
13

Hình 6. Lược đồ về nơi có lưu giữ gốm Chu Đậu thế kỉ XV – XVI

1. Hoàn thành bảng thông tin về sự phát triển kinh tế của Hải Dương trong các thế kỉ
X – XVI:
Nội dung

Nông nghiệp

Thủ công nghiệp

Thương nghiệp

Điều kiện phát triển
Thành tựu
Đánh giá
2. Nhận xét về tình hình kinh tế của Hải Dương từ thế kỉ X – XVI.

Giới thiệu về một sản phẩm thủ công của Hải Dương thế kỉ X – XVI mà em thích.

14

TÌNH HÌNH VĂN HOÁ

Nhà nước Văn Lang, Âu Lạc được coi là thời kì đặt nền móng vững
chắc cho nền văn hoá bản địa của dân tộc Việt Nam. Qua quá
trình giao thoa văn hoá, tiếp thu có chọn lọc và cải biến, từ thế
kỉ X – XVI, nền văn hoá Đại Việt tiếp tục khởi sắc với nhiều thành
tựu rực rỡ.
Văn hoá Hải Dương đã phát triển như thế nào trong giai đoạn này?

1 Tín ngưỡng – tôn giáo

Văn hoá Hải Dương trong các thế kỉ X – XVI có bước phát triển mới như
thế nào?

Từ thế kỉ X, bên cạnh việc duy trì các tín ngưỡng như thờ cúng tổ tiên, tôn vinh
những người có công với nước, sùng bái thiên nhiên,… đạo Phật nhanh chóng phát
triển tại Hải Dương. Nhiều ngôi chùa đã được xây dựng trong thời kì này như: chùa
Động Ngọ (xã Tiền Tiến, thành phố Hải Dương); chùa Liên Hoa (xã Nhật Tân, huyện
Gia Lộc); chùa Kỳ Đà (phường Ái Quốc, thành phố Hải Dương), chùa Huyền Thiên
(phường Văn An, thành phố Chí Linh),…

15

Chùa Động Ngọ (xã Tiền Tiến,
huyện Thanh Hà, nay thuộc thành phố
Hải Dương) được xây dựng bởi Quốc
sư Khuông Việt vào năm 971 là minh
chứng cho sự tồn tại và phát triển của
đạo Phật ở Hải Dương từ thế kỉ X.
Hình 1. Chùa Động Ngọ
(xã Tiền Tiến, thành phố Hải Dương)

Dưới thời Lý – Trần, Phật giáo được coi trọng và chiếm địa vị độc tôn. Ở Hải Dương,
chùa được xây dựng tại các địa phương. Đặc biệt, vào thế kỉ XIII, trên vùng đất Hải Dương
có sự ra đời của thiền phái Phật giáo bản địa là Thiền phái Trúc Lâm với một số vị
cao tăng tiêu biểu như Pháp Loa, Tuệ Tĩnh.

Tháng 8 năm 1299, Thượng hoàng Trần Nhân Tông đi tu tại núi Yên Tử, sáng lập
ra Thiền phái Trúc Lâm. Cùng phát triển thiền phái này với vua là các Thiền sư kiệt xuất
gồm Pháp Loa và Huyền Quang, gọi chung là Trúc Lâm Tam tổ. Tư tưởng của Thiền
phái này hướng về con người với tinh thần yêu nước: “Phật tại tâm, mọi người đều có thể
thành Phật, bất luận là tu sĩ xuất gia hay tại gia, nam hay nữ chỉ cần sống thiện, sống tốt
là thành Phật”.

Chùa Côn Sơn là nơi Trần Nhân
Tông, Pháp Loa, Huyền Quang là ba vị tổ
sáng lập thiền phái này đã từng tu hành
và thuyết pháp ở đây. Thiền sư Huyền
Quang là trụ trì chùa Côn Sơn đã viên
tịch tại đây vào ngày 23 tháng Giêng
năm Giáp Tuất (1334), vì thế Côn Sơn
được gọi là một trong những chốn tổ
của Thiền phái Trúc Lâm.

16

Hình 2. Chùa Côn Sơn (thành phố Chí Linh)

Bên cạnh sự phát triển của đạo Phật, từ thời Trần, Nho giáo và Đạo giáo từng
bước ảnh hưởng sâu rộng vào Hải Dương, tạo nên nét đặc sắc văn hoá “tam giáo
đồng nguyên”.
2 Giáo dục, khoa cử

Giáo dục của Hải Dương thế kỉ X – XVI phát triển như thế nào?

Từ thời nhà Lý, ngay từ những khoa thi đầu tiên, đất Hồng Châu (Hải Dương) đã
có Mạc Hiển Tích, người xã Lũng Động – huyện Chí Linh (nay là xã Nam Tân, huyện
Nam Sách) đỗ đầu khoa thi năm Bính Dần (1086) và trở thành người khai khoa cho
tỉnh Hải Dương. Trong số sáu khoa thi thời Lý, vùng đất Hải Dương (Hồng Lộ) có năm
người đỗ đạt.
Đến thời Trần, Hồng Châu có nhiều người đỗ đạt cao ra làm quan. Trong lĩnh vực
ngoại giao và văn học có Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi; cống hiến cho sự nghiệp giáo
dục có thầy giáo Chu Văn An; lĩnh vực y học có Đại danh y Tuệ Tĩnh,... Ngoài ra, còn
rất nhiều người đỗ đạt thành danh như: Phạm Sư Mạnh, Nguyễn Đại Năng (Kinh Môn);
Nguyễn Phi Khanh (Chí Linh); Lê Cảnh Tuân (Bình Giang),…
Mạc Đĩnh Chi (1280 – 1346)
người làng Lũng Động, huyện
Chí Linh (nay thuộc xã Nam
Tân, huyện Nam Sách, tỉnh Hải
Dương). Ông đỗ Trạng nguyên và
làm quan dưới thời vua Trần Anh
Tông. Ông được cử đi sứ Trung
Quốc và được vua Nguyên phong
“Lưỡng quốc Trạng nguyên”
(Trạng nguyên hai nước).
Hình 3. Đền thờ Mạc Đĩnh Chi (huyện Nam Sách)

17

Tuệ Tĩnh (1330 – 1385), người làng
Nghĩa Phú, tổng Văn Thai, phủ Thượng
Hồng (nay là thôn Nghĩa Phú, xã Cẩm
Vũ, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương) là
người mở đầu cho nền y dược cổ truyền
Việt Nam, được nhân dân tôn là vị thánh
thuốc Nam. Ông đã xây dựng 24 ngôi
chùa, cũng chính là y xá chữa bệnh. Ông
tập hợp nhiều phương thuốc quý cho y
học cổ truyền Việt Nam.

Hình 4. Đền thờ Tuệ Tĩnh
(xã Cẩm Văn, huyện Cẩm Giàng)

Thời Lê sơ, cùng với việc đề cao giáo dục, khoa cử của nhà nước, giáo dục ở
Hải Dương cũng phát triển thêm một bước mới. Văn miếu trấn Hải Dương được xây
dựng vào thế kỉ XV tại xã Vĩnh Lại, huyện Đường An (nay thuộc xã Vĩnh Tuy, huyện
Bình Giang) là một biểu tượng về sự phát triển giáo dục xứ Đông. Qua các khoa thi
dưới thời Lê sơ với 31 kì thi, lấy đỗ 647 tiến sĩ, thì xứ Đông đã có 221 người đỗ tiến
sĩ. Đến triều Mạc (1527 – 1592) tổ chức 22 khoa thi, lấy đỗ 485 người, trong đó
Hải Dương có 122 người.

Nêu những thành tựu tiêu biểu về văn hoá – giáo dục của Hải Dương dưới thời
Lý – Trần – Lê sơ. Nhận xét về sự phát triển của văn hoá Hải Dương trong thời
kì này.

1. Đóng vai hướng dẫn viên du lịch, giới thiệu về văn hoá Hải Dương thế kỉ X – XVI.
2. Sưu tầm câu chuyện kể về những nhân vật lịch sử, những danh nhân văn hoá
của thời kì Lý – Trần – Lê sơ tại huyện, thị xã, thành phố nơi em sống.

18

Chủ đề 2
HẢI DƯƠNG – PHÊN GIẬU PHÍA ĐÔNG
TRONG CUỘC ĐẤU TRANH BẢO VỆ
ĐỘC LẬP, TỰ CHỦ CỦA DÂN TỘC
(THẾ KỈ X – XVI)
Mục tiêu
• Nêu được tầm quan trọng về vị thế của trấn Hải Dương đối với các cuộc
đấu tranh chống ngoại xâm.
• Nhận xét, đánh giá được vai trò trấn thủ của Hải Dương trong quá trình
đấu tranh chống ngoại xâm của dân tộc.
• Giới thiệu được về một vài địa danh của Hải Dương gắn với chiến thắng
trong đấu tranh chống xâm lược.

Tượng đài Trần Hưng Đạo (xã An Sinh, thị xã Kinh Môn, Hải Dương)

19

VỊ TRÍ TRẤN THỦ CỦA HẢI DƯƠNG

Từ khi nhà Lý dời đô từ Hoa Lư về Thăng Long (năm 1010), vùng đất
Hải Dương trở thành một trong “tứ trấn” quan trọng và được coi là
phên giậu phía Đông của kinh thành.
Với vị trí đó, Hải Dương có vai trò như thế nào trong các cuộc đấu
tranh chống ngoại xâm thế kỉ X – XVI?

1 Địa thế của vùng đất Hải Dương

Địa thế của Hải Dương có đặc điểm gì?

Địa thế của Hải Dương xưa rất đặc biệt: phía Đông Bắc có dãy núi Yên Tử thuộc
cánh cung Đông Triều tạo bức tường thành che chắn; phía Tây Bắc là hệ thống Lục
Đầu Giang, là điểm chốt quan trọng chặn mọi tuyến đường thuỷ từ phía Đông Bắc vào
kinh thành Thăng Long.

Trong bốn trấn thủ: xứ Đông, xứ
Bắc, xứ Đoài, xứ Nam; Hải Dương là
một trấn thủ trọng yếu ở phía Đông, bảo
vệ kinh thành Thăng Long.

Hình 1. Lược đồ tứ trấn của kinh thành Thăng Long

20

Lục Đầu Giang là nơi hội tụ của
sáu dòng sông: sông Thương, sông
Lục Nam, sông Cầu, sông Đuống, sông
Thái Bình và sông Kinh Thầy. Đây là
con đường thuỷ duy nhất từ phía Đông
Bắc vào Thăng Long.

Hình 2. Lược đồ Lục Đầu Giang

Là một trong “tứ trấn” của kinh thành, với địa thế đặc biệt nên từ thế kỉ X đến
thế kỉ XVI, Hải Dương luôn giữ vai trò là “phên giậu” trọng yếu trong các cuộc đấu
tranh bảo vệ nền độc lập của dân tộc.
2 Vai trò trấn thủ của Hải Dương trong các cuộc đấu tranh chống xâm lược thế kỉ
X – XVI
Vai trò trấn thủ của Hải Dương được thể hiện như thế nào trong các cuộc
kháng chiến chống xâm lược thế kỉ X – XVI?

Là vùng đất có địa thế hiểm yếu về quân sự nên trong suốt tiến trình đấu tranh
chống xâm lược thế kỉ X – XVI, Hải Dương luôn khẳng định vai trò là một trấn thủ quan
trọng của phía Đông kinh thành Thăng Long.
Năm 981, vua Lê đã
chọn Dược Đậu Trang (An Lạc,
Chí Linh) làm nơi đóng đại
bản doanh để kháng chiến
chống quân Tống xâm lược
lần thứ nhất.
Hình 3. Đền thờ vua Lê Đại Hành
(thành phố Chí Linh)

21

Năm 1077, phòng tuyến
Vạn Xuân khu vực sông Lục Đầu
tạo thành bức tường thành
vững chắc góp phần quan
trọng trong chiến thắng quân
Tống xâm lược lần thứ hai.

Hình 4. Lược đồ cuộc kháng chiến chống Tống
năm 1077

Thời nhà Trần, đại bản
doanh Vạn Kiếp góp phần
quyết định làm nên thắng lợi
trong cuộc kháng chiến chống
quân Nguyên cuối thế kỉ XIII.

Hình 5. Sông nước Vạn Kiếp

Những thắng lợi quyết định gắn với Hải Dương thế kỉ X – XVI đã khẳng định vai trò
“phên giậu” của vùng đất xứ Đông, đồng thời khẳng định truyền thống yêu nước,
ý chí đấu tranh kiên cường của nhân dân địa phương trong công cuộc bảo vệ đất nước.

Đánh giá vai trò của vùng đất Hải Dương trong quá trình đấu tranh chống xâm lược
thế kỉ X – XVI.

Giới thiệu về một địa danh tại Hải Dương từng được coi là trấn thủ trong đấu tranh
chống ngoại xâm thế kỉ X – XVI.

22

MỘT SỐ CHIẾN THẮNG TIÊU BIỂU GẮN
VỚI VÙNG ĐẤT HẢI DƯƠNG

Hai câu đối tại Nghi môn đền Kiếp Bạc có nội dung:
“Kiếp Bạc muôn ngọn núi đều có hùng khí của kiếm thiêng
Lục Đầu không còn nước nào chẳng vọng tiếng Thu”
Vùng đất Vạn Kiếp, Lục Đầu Giang đã ghi dấu những chiến công oai
hùng của dân tộc trong đấu tranh chống ngoại xâm như thế nào?

1 Chiến thắng Lục Đầu Giang năm 981

Chiến thắng Lục Đầu Giang năm 981 đã diễn ra như thế nào?

Trong cuộc kháng chiến chống quân Tống lần thứ nhất, vùng đất Hải Dương tuy
không phải là địa bàn diễn ra các trận quyết chiến chiến lược, nhưng với vai trò là một
vị trí quan trọng nên nhân dân Hải Dương, đặc biệt là nhân dân Vạn Kiếp đã góp phần
đáng kể vào sự nghiệp đánh thắng quân Tống.
Đầu năm 981, quân Tống xâm lược nước ta theo hai đường thuỷ, bộ. Cánh quân
thuỷ do Hầu Nhân Bảo chỉ huy tiến vào nước ta theo cửa sông Bạch Đằng. Trước sức
mạnh của quân Tống, lực lượng quân của Đại Cồ Việt không giữ được cửa ngõ
Bạch Đằng. Lê Hoàn cho rút quân về vùng núi thuộc Kinh Môn và Chí Linh để vừa
củng cố lực lượng, vừa phát triển chiến tranh du kích, làm suy yếu quân Tống. Đặc
biệt, Lê Hoàn đã cho xây dựng tuyến phòng thủ vững chắc trên sông Lục Đầu.
Tháng 2 và tháng 3 năm 981, nghĩa quân đánh thắng nhiều trận trên sông Kinh Thầy
và Lục Đầu Giang, tạo nền tảng cho chiến thắng cuối cùng trên sông Bạch Đằng vào
tháng 4 năm 981.

23

Ngày 30 Tết năm Canh Thìn (tức ngày
7 – 2 – 981), Hầu Nhân Bảo chỉ huy cánh
quân thuỷ tiến theo sông Kinh Thầy vào
sông Lục Đầu nhằm tiến vào Đại La, làm
bàn đạp tiến đánh Hoa Lư. Chiến tuyến
Lục Đầu Giang với hệ thống núi sông hiểm
trở, cùng với sự chỉ huy trực tiếp của
Lê Hoàn cùng các tướng Trần Công Ích,
Trần Bảo Chung,… đã trở thành phòng
tuyến vững chắc, làm tiêu hao sinh lực và
chặn đứng đường tiến công của quân Tống.

Hình 1. Lược đồ cuộc kháng chiến chống Tống
năm 981

Thất bại ở sông Lục Đầu đã làm quân Tống suy yếu, rệu rã, tạo thời cơ cho quân
dân Đại Cồ Việt đẩy mạnh tiến công, đi đến thắng lợi cuối cùng trên sông Bạch Đằng
vào tháng 4 năm 981.
Trong cuộc kháng chiến chống Tống năm 981, Lục Đầu Giang là một tuyến phòng
thủ trọng yếu, khẳng định vai trò “phên giậu” của đất Hồng Châu. Nhân dân Hồng Châu
đã đóng góp nhiều nhân tài, vật lực, đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi.
2 Chiến thắng quân Nguyên tại Vạn Kiếp
a. Năm 1285
Đọc thông tin và quan sát lược đồ hình 3 (trang 25), hãy cho biết những nét
diễn biến chính về trận đánh tại Vạn Kiếp trong cuộc kháng chiến chống quân
Nguyên năm 1285.
Vùng đất Vạn Kiếp thuộc lộ Hải Đông thời Trần (nay thuộc thành phố Chí Linh –
Hải Dương) được bao bọc bởi hệ thống núi hiểm trở: núi Vạn Yên, Bắc Đẩu, Nam Tào,…
nhìn ra sông Lục Đầu. Đây là đầu mối huyết mạch giao thông thuỷ, bộ trấn giữ cửa ngõ
phía Đông kinh thành Thăng Long.
Sớm nhận ra vị trí chiến lược quan trọng của Vạn Kiếp và Lục Đầu Giang, ngay sau
cuộc kháng chiến chống quân Mông Cổ lần thứ nhất năm 1258, Trần Quốc Tuấn đã
chọn nơi này để xây dựng chiến luỹ quân sự trọng yếu của đất nước.

24

Đại bản doanh Vạn Kiếp là một
khu vực rộng lớn, có dãy núi Trán Rồng
hình tay ngai, bao bọc thung lũng sông
Thương, có thể tập kết hàng nghìn
chiến thuyền. Hệ thống núi rừng của
cánh cung Yên Tử có thể là căn cứ an
toàn cho hàng vạn quân. Trên đỉnh núi
có thể quan sát rõ cả một vùng bao la,
tạo thế chủ động cho quân sĩ.
Hình 2. Một thung lũng sông Thương ăn sâu
vào Vạn Kiếp

Năm 1282, trước kế hoạch tấn công Đại Việt của quân Nguyên, nhà Trần đã tổ
chức Hội nghị Vương hầu bách quan (Hội nghị Bình Than) tại Trần Xá bên dòng sông
Kinh Thầy (nay thuộc xã Nam Hưng, huyện Nam Sách) để bàn kế sách đánh giặc.
Trong quá trình nhà Trần thực hiện kế sách
"vườn không nhà trống" (từ tháng 2 – 1285),
triều đình rút về Thiên Trường (đất Nam Định
cũ) và Trường Yên (Ninh Bình), Trần Quốc Tuấn
đã cho tập trung lực lượng, dựa vào địa hình
hiểm trở của hệ thống núi, sông tại Vạn Kiếp
để xây dựng một hệ thống điểm chốt chặn
trọng yếu, nhằm tiêu diệt cánh quân thuỷ của
địch rút khỏi Thăng Long.
Ngày 10 – 6 – 1285, cánh quân của
Thoát Hoan rút chạy nhưng bị chặn đánh tại
sông Như Nguyệt nên đã chuyển hướng, rút
theo đường sông Thương.

Hình 3. Lược đồ cuộc kháng chiến chống quân
Nguyên lần thứ hai (năm 1285)

25

Tại sông Thương, Vạn Kiếp, lực lượng
mai phục của Trần Quốc Tuấn đã tiêu
diệt phần lớn cánh quân thuỷ của địch,
Thoát Hoan phải trốn trong ống đồng để
rút khỏi Vạn Kiếp.

Hình 4. Tranh vẽ trận Vạn Kiếp năm 1285

Vạn Kiếp trở thành mồ chôn quân giặc, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống
quân Nguyên xâm lược lần thứ hai. Chiến thắng Vạn Kiếp có sự đóng góp to lớn của nhân
dân Hải Dương nói chung, nhân dân Vạn Kiếp nói riêng.



b. Năm 1288

Quan sát lược đồ hình 5 (trang 26) và cho biết: Vạn Kiếp có vai trò như thế
nào trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên năm 1288?

Nhận thấy vai trò trọng yếu của Vạn Kiếp, trong cuộc xâm lược Đại Việt lần thứ ba
năm 1288, quân Nguyên quyết chiếm Vạn Kiếp nhằm tạo bước đệm vững chắc để tấn
công vào Thăng Long. Vạn Kiếp một lần nữa trở thành chiến trường của cuộc chiến.

Hình 5. Lược đồ kháng chiến chống quân Nguyên năm 1288

26

Ngày 9 – 4 – 1288, Ô Mã Nhi cùng tàn quân rút theo đường thuỷ. Vạn Kiếp và
sông Bạch Đằng đã trở thành một chiến trường thống nhất, quân của Trần Quốc Tuấn
đã bắt sống tướng giặc Ô Mã Nhi và tiêu diệt phần lớn cánh quân thuỷ của địch, số
còn lại rút về Vạn Kiếp, bị quân ta tấn công tiêu diệt.
Chiến thắng quân Nguyên là một trong những chiến công vĩ đại bậc nhất trong
lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm của dân tộc ta. Vùng đất Hải Dương không chỉ là
nơi cung cấp nhân tài, vật lực cho kháng chiến mà còn là nơi diễn ra những trận đánh
quyết liệt nhất, ghi dấu những trang sử hào hùng của dân tộc Việt Nam.

1. Kể tên những trận đánh, chiến thắng gắn với vùng đất Hải Dương trong quá trình
đấu tranh chống ngoại xâm của dân tộc thế kỉ X – XVI.
2. Đánh giá vai trò của nhân dân Hải Dương đối với các cuộc kháng chiến chống
ngoại xâm của Việt Nam trong các thế kỉ X – XV.

Giới thiệu những dấu tích của chiến trường Vạn Kiếp xưa tại khu vực Kiếp Bạc
ngày nay.

KẾT NỐI DI SẢN
Thái ấp Vạn Kiếp là nơi Trần Hưng Đạo đã sống, chiến đấu và trút hơi
thở cuối cùng. Tại đây, ông đã viết các tác phẩm như Binh thư yếu lược,
Vạn Kiếp tông bí truyền thư,… tổng kết kinh nghiệm trong đấu tranh giữ
nước, chống giặc ngoại xâm. Cũng chính nơi đây, Trần Hưng Đạo đã nói
những lời trăng trối cuối cùng với vua Trần về kế sách giữ nước: “Có thu
dụng quân lính như cha con mới dùng quân được” và “Thời bình phải khoan
thư sức dân, làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách giữ nước”.

27

Chủ đề 3
NGHỆ THUẬT TRUYỀN THỐNG CỦA
HẢI DƯƠNG
Mục tiêu
• Trình bày được nguồn gốc ra đời, đặc trưng và sự bảo tồn của các loại
hình nghệ thuật truyền thống (nghệ thuật chèo, ca trù, múa rối nước,
hát trống quân) tại Hải Dương.
• Nhận xét được giá trị văn hoá của các loại hình nghệ thuật này đối với
đời sống nhân dân địa phương.
• Trải nghiệm, thực hành một vài làn điệu dân ca (chèo, ca trù); nêu các
giải pháp bảo tồn các loại hình nghệ thuật này trong giai đoạn hiện nay.

28

Hình 1

Hình 2

Hình 3

Hình 4

Hải Dương là vùng đất thuộc đồng bằng châu thổ sông Hồng, có
bề dày truyền thống lịch sử và văn hoá. Gắn với nền kinh tế nông
nghiệp lúa nước, vùng đất xứ Đông nổi tiếng là một trong những cái
nôi của nhiều loại hình nghệ thuật dân gian.
Những hình ảnh trên minh hoạ cho các loại hình nghệ thuật truyền
thống nào? Các loại hình nghệ thuật đó được phát triển như thế nào
ở Hải Dương?

NGHỆ THUẬT CHÈO

Hải Dương có phải một trong những cái nôi của nghệ thuật chèo không?

Chèo là loại hình nghệ thuật sân khấu cổ truyền của Việt Nam, được ra đời từ thế
kỉ X. Người nghệ sĩ dân gian đầu tiên được sử sách ghi nhận là bà Phạm Thị Trân.

Bà Phạm Thị Trân, sinh năm 926 tại đất
Hồng Châu (Hải Dương), là người được triều
đình nhà Đinh – Tiền Lê giao nhiệm vụ dạy
múa hát trong cung đình và quân đội. Bà là
người đặt nền móng cho nghệ thuật chèo ở
nước ta.
Hình 1. Đền thờ bà Phạm Thị Trân...
 
Gửi ý kiến

Đọc sách cho tâm trí cũng cần như thể dục cho cơ thể.

KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG THCS THANH HÀ - TP. HẢI PHÒNG!